Vì sự phát triển nông nghiệp

SỬ DỤNG PHÂN BÓN HOÁ HỌC VÀ PHÂN BÓN CÓ NITƠ NẾU KHÔNG PHÒNG HỘ DỄ GÂY BỆNH TẬT VÀ UNG THƯ

20:17 - 08/10/2018
(QHNN) - Trong nông nghiệp muốn có năng suất cao điều tất yếu phải dùng phân bón. Nước ta dự kiến đến năm 2020 các loại phân bón hoá học bón cho đồng ruộng bình quân là từ 12 – 15  triệu tấn/năm và theo tính toán chưa đầy đủ số người trực tiếp lao động sản xuất, vận chuyển sử dụng bảo quản phân bón ở nước ta hàng năm có tới 10 triệu lượt người (trong đó lứa tuổi trẻ chiếm 65-70%).
 
Về cường độ lao động, đến mùa người lao động phải trực tiếp với phân bón từ 10-12 giờ/ngày. Công nhân khuân vác có ngày vác từ 8-10 tấn/ngày như ở Bến Tân Quy - Sài Gòn...

Phân bón hoá học gồm nhiều loại: đạm sunfat, đạm clorua, đạm nitơrat, đạm canxixianmit, urê (nước và khan); lân: supe lân, lân thernophốtphat... và kali: kali clorua, kalisunfat, phân kali, Emgekali, kalicarbonate, Electrolit và kanamag...

Phân bón như chiếc chìa khoá mở ra năng suất cây trồng, nhưng rồi sau bên trong bí ẩn của nó các nhà khoa học cũng vén lên bức màn độc hại của nó: Danien Rozefo người phát minh ra N (nitơ). Lavoajie còn gọi là azot (theo tiếng Hylạp) azot có nghĩa là không duy trì sự sống. Magei và Barnes đã nghiên cứu các loại phân đạm mang hàm lượng N (như urê (NH4+) gốc amon, gốc amon là tác nhân gây biến đổi gen và rối loạn di truyền...). Phần lớn nitơrat vào cơ thể người từ rau, củ, quả và sử dụng tuỳ tiện thiếu phương tiện phòng hộ… Nitrat vào cơ thể đi theo các yếu tố trên 85% do sử dụng phân bón có hàm lượng nitơ dư thừa khi vào cơ thể bị ôxy hoá, nitơ sẽ chuyển hoá thành nitrit. Ngoài ra nitrat vào cơ thể còn qua đường nước uống, thức ăn, thịt, muối ăn nhưng tỷ lệ thấp.

Còn trên đồng ruộng bón phân N đều bị nitơrat hoa, đến giai đoạn phát sinh ra gốc NO3- (nitơrat) trong môi trường trung tính nhờ các vi khuẩn chuyển hoá thành NO2 (nitơrit) từ gốc NO2 khi xâm nhập với cơ thể nó đi theo 2 con đường chính, nếu qua con đường tiêu hoá gặp môi trường axit dạ dày kết hợp với H2O (nước) thành axinitơ (HNO2), rồi xuất hiện khi có mặt của Anion nhóm halogen thành O = N - X kết hợp với Cacbuahydro tạo thành: Nitrosamin là tác nhân gây ung thư và ung thư D2 có tỷ lệ cao nhất.

Một con đường khác từ gốc NO2 nếu bị thâm nhiễm qua da (bị xước) vào máu gặp Hemoglobin có mặt của NO2 tác động đến trong môi trường đó sinh ra Methemoglobin không hoạt động, và theo Lýpchitz, chính phénythydroxylamin là chất chủ yếu chuyển hemoglobin thành methemoglobin là chất tác nhân gây bệnh tật ung thư. Sự tạo thành nitrosamin ở D2 đôi khi độ pH giảm không cần sự tham gia của enzym. Mức độ pH ở D2 khác nhau thì lượng nitrosamin (NTSM) trong y học thường gọi là nitrosamid khác nhau.
 


 

Nếu khi không tạo thành nitrosamid thì nitrat sẽ tự phân huỷ nhanh theo đường mồ hôi, nước tiểu ra ngoài cơ thể… Có những nghiên cứu khác cho rằng một chất còn có khả năng ức chế quá trình tạo thành nitrosamid như tăng cường vitamin C, tocophenol…

Các công trình nghiên cứu khác cho thấy lượng NO3 trong rau quả, củ hàm lượng dư rất cao.

Với con người nếu trong vòng 24 giờ hấp thụ trên 5mg nitơrat (mùi - acinitrit) với 1kg trọng lượng thì cơ thể sẽ bị ảnh hưởng xấu đến sức khoẻ và ung thư.

Theo WHO (Tổ chức Y tế thế giới) hàng năm chỉ mới điều tra ở một số nước đã có tới nửa triệu người bị nhiễm độc về nguyên nhân do môi trường có chứa các hoá chất Phenoxi, Dioxin, nitơ (Nitơrat...Nitrosamin) và các chất thải hoá công nghiệp khác; như vật lý gồm các phóng xạ, ion. Sinh học gồm các virut, vi khuẩn... Có tới 170 triệu người ở thành thị, và gần 1 tỷ người ở các vùng nông thôn đã phải bị dùng nước không được tinh sạch... Dự kiến toàn thế giới mỗi năm có trên 1 tỷ người là nạn nhân của việc bị ô nhiễm môi trường. Ở Việt Nam hàng năm có cả chục nghìn người bị ảnh hưởng ô nhiễm môi trường như năm 1999 thành phố Hồ Chí Minh (theo Bộ Lao động - TBXH) có tới 1.174 người trong đó có 29 người tử vong...

Ở Việt Nam, qua đề tài 267-84 chúng tôi đã nghiên cứu trên 4000 lượt người làm phân bón (nông dân sử dụng, công nhân sản xuất, khuân vác...) trong đó có 1000 người nghiên cứu huyết đồ, nhiễm sắc thể (do Bệnh viện Bạch Mai, chợ Rẫy, và Viện huyết học truyền máu Trung ương thực hiện năm 1983-1985). Hồng cầu tăng 4.300.000-5.200.000 chiếm 38%, Limphoxit tăng cao 51-56%, CSO 50%. Hằng số đảo ngược giữa neutre và limphoxit 15%...

Sự biểu hiện rối loạn trên cho ta hướng suy nghĩ từ nitơ hay yếu tố Nitơrat hoá khử thành Nitơrat - Các Nitơrat được tạo ra, lại được hấp thụ vào máu và kết hợp với Hemoglobin để thành ra Methemoglobin từ đó gây rối loạn chuyển hoá enzym, hồng cầu xuất hiện một sự rối loạn vận chuyển oxy. Nhiều công trình WHO đã xác định nếu cơ thể con người có sự diễn biến trên đều không tránh được sự bất lợi của cơ thể, do tác động phải Nitơrat có nồng độ thâm nhập (vào người, cây, củ, quả), số Nitơrat sinh ra có thể chuyển hoá trực tiếp thành Nitrosamin.

Nói như trên không có nghĩa là ai sản xuất, sử dụng cung ứng... phân bón hoá học có nitơ đều bị thâm nhiễm mắc bệnh cả? Không phải vài ngày mà vài tháng, vài năm người làm công việc tiếp xúc phân bón (cán bộ nghiên cứu, công nhân sản xuất, nông dân trên đồng ruộng... khi thấy biểu hiện các triệu chứng đi khám mới phát hiện bệnh tật.

Từ trong cơ thể con người còn có một yếu tố: theo I-sa-ac, Lin-đan-man, Mas-cus, San-đơ và Bôt-tan-gen đã tìm ra in-tec-phê-rôn của con người, gọi là in-tec-phê-rôn nội sinh, nó có nhiều gen điều khiển tổng hợp ra in-tec-phê-rôn Gamma, Alffa, Bêta.

Bình thường các gen này ở trạng thái bị ức chế không hoạt động, khi nào có một tác nhân kích thích như một vi rút như một axit hay một chất độc kích thích cảm ứng tế bào thì các gen mới tự hoạt động tổng hợp ra in-tec-phê-rôn.

Khi có một in-tec-phê-rôn xuất hiện tác động vào màng tế bào và từ màng tế bào đứa “tín hiệu” vào ADN của nhân bào rồi khởi động một gen khác để tổng hợp ra một protein gọi là protein ức chế phiên dịch (PIP). Protein này tác động vào Ribôxôm tế bào, làm cho ribôxôm không tổng hợp được protein của các chất lạ, do đó không thể tạo ra môi trường hoàn chỉnh nên không thể hình thành được điều kiện sống.

Do đó sẽ không có các điều kiện gây bệnh. Theo Su-su-ma-to-ne-ga-va ở trung tâm nghiên cứu ung thư Ma-sa-chu-sết còn chứng minh được các phân tử ADN sản sinh ra các gen có thể sắp xếp thành một số cấu trúc vô tận, mỗi một cấu trúc lại được tạo ra một kháng thể đặc thù chống bệnh tật và ung thư. Nếu cơ thể con người bị suy yếu, bị thiểu năng miễn dịch thì các điều kiện làm rối loạn đột biến ở tế bào cứ gây ra và ngắt các kích thích cảm ứng, các gen tổng hợp loạn in-tec-phê-rôn thì con người thiếu sự bảo hộ và dần dần đưa đến phát sinh bệnh tật và ung thư.

Trong đời sống con người, hàng giờ, hàng ngày trong cơ thể có rất nhiều tế bào bị đột biến dưới tác động của các hoá chất, vi rút gây bệnh, nên đều có thể bị kích thích làm đột biến tế bào. Sự đột biến đó dẫn đến làm cho tế bào bị gây độc và sinh bệnh.

Nếu cơ thể khoẻ mạnh, bộ máy miễn dịch của cơ thể hoạt động tốt thì các tế bào ấy lập tức bị dung hoà và tiêu diệt. Các bệnh tật khó có điều kiện phát sinh.

Những người trực tiếp nghiên cứu, sản xuất, cung ứng, sử dụng... các loại phân bón nếu có kế hoạch biết gìn giữ và đề phòng tốt thì hạn chế được nhiều mặt độc hại trước mắt và lâu dài.

Đặc biệt lớp người trẻ chưa có gia đình còn phải quan tâm nhiều đến việc giữ gìn bảo vệ hạnh phúc giống nòi cho mai sau.

Các cơ quan nhà nước, các hợp tác xã cần tuyên truyền giáo dục cho nhân dân tổ chức phòng hộ và trang bị phòng hộ đầy đủ chặt chẽ cho người lao động, thực hiện các biện pháp kỹ thuật sử dụng phân bón đúng quy trình, hàng năm tổ chức khám bệnh kiểm tra sức khoẻ cho người lao động 1-2 lần và làm tốt công tác chăm sóc sức khoẻ ban đầu.

Bản thân cán bộ công nhân viên và nhân dân luôn luôn đề cao ý thức trách nhiệm tự đề phòng cho mình để giữ gìn bảo vệ sức khoẻ chống bệnh tật.

Lê Ngân

Nguồn:QUÊ HƯƠNG NGÀY NAY

1
0
Bài viết cùng danh mục
Bài viết mới nhất
Loại Mua vào Bán ra
Vàng SJC 1L - 10L 41.560 41.830
Vàng nhẫn SJC 99,99 1 chỉ, 2 chỉ, 5 chỉ 41.550 42.000
Vàng nhẫn SJC 99,99 0,5 chỉ 41.550 42.100
Vàng nữ trang 99,99% 41.030 41.830
Vàng nữ trang 99% 40.416 41.416
Vàng nữ trang 75% 30.126 31.526
Vàng nữ trang 58,3% 23.139 24.539
Vàng nữ trang 41,7% 16.195 17.595
  Mua vào Bán ra
AUD 15492.03 15850.57
CAD 17254.9 17707.7
CHF 22932.05 23486.43
DKK 0 3476.26
EUR 25342.11 26181.77
GBP 28820.82 29282.35
HKD 2915.34 2979.85
INR 0 338.69
JPY 207.19 215.35
KRW 18.15 20.63
KWD 0 79169.89
MYR 0 5584.81
NOK 0 2590.27
RUB 0 401.22
SAR 0 6412.62
SEK 0 2388.99
SGD 16728.55 17030.47
THB 747.13 778.3
USD 23145 23265