Vì sự phát triển nông nghiệp

HƯỚNG DẪN CƠ BẢN CHUNG CÁCH BÓN PHÂN CHO CÁC LOẠI CÂY

20:39 - 05/08/2018

BÓN PHÂN CHO CÂY BƠ (LÊ)

* Đặc điểm:

- Cây bơ yêu cầu muối khoáng và dinh dưỡng cao nhất trong các loại quả.

- Cây boơ (lê) không chịu được úng, rất dễ chết vì úng.

- Thường trồng cây ghép, trong một vườn nên trồng nhiều giống để dễ tạp giao, khoảng cách 9 x 9m, có thể 6 x 6m rồi khi cây độ 10 tuổi thì chặt bớt còn 6 x 12m.

- Hàm lượng N trong lá từ 1,6-2,0%.

- Cây lá xanh nhạt hoặc vàng, do kém đạm, cũng như cây màu lục đậm lá to rậm rạp, đều năng suất kém. Do đó, cần phân tích lá để bón đạm.

* Phương pháp bón phân:

- Lượng đạm thích hợp thường từ 100-150N/ha ở dạng nitơrat hoặc sunfat. Đạm urê thường dùng bón lên lá.

Bón đạm làm 2 lần: 1/2 trước khi ra hoa, và 1/2 khi quả bắt đầu phát triển.

Những vườn tốt, có điều kiện cây mọc khoẻ có thể bón 150-200N/ha. Phun urê lên lá có hiệu quả tốt (dung dịch 0,5%).

- Nhu cầu về lân của cây bơ rất cao, cao hơn cam quýt gấp 4 lần (theo Langenegger) nếu đất nghèo lân.

Thiếu lân, lá xanh, sạm, cứng, có khi có vệt nâu. Khi cây còn nhỏ, bón P2O5 nhiều hơn N, rồi bớt dần. Ví dụ: tỷ lệ NPK năm đầu 1:2:1 sau đó 1:1:1 rồi 2:1:2. Có thể bón những năm đầu từ 100-300kg P2O5/ha chủ yếu là lân dễ tiêu; nếu bón nhiều hơn, có thể trộn lân dễ tiêu và lân chậm tiêu.

- Kali bón liều lượng như N (100-200kg K2O/ha), hoặc cao hơn một ít, tuỳ đất.

- Thường bơ (lê) cần bón Mg. Nếu Mg trong lá ≥ 0,2% là rất cần bón. Tỷ lệ trung bình là 0,30-6,0% Mg; bón 200-500kg dolomit/ha.

- Nguyên tố vi lượng thường thiếu là Zn (lá có màu vàng lá chè, cụt; ngọn, chùm lá hoa thị…).

Phun ZnSO4 + 50% Ca(OH)2 lên lá.

Cần bón thêm phân chuồng tác dụng rất tốt.

BÓN PHÂN CHO CAO SU

* Đặc điểm:

- Năng suất mủ cao từ 800-1500kg/ha (giống RRIM 501). Chất dinh dưỡng do mủ lấy đi rất ít, nhưng chất dinh dưỡng cây cần tích luỹ để làm mủ rất cao, do đó cần bón nhiều phân.

Cây phủ đất, rắc phốtphat thiên nhiên cho những loại cây này (120-200kg P2O5/ha/năm trong 3 năm đầu). Đạm làm tăng bộ lá và sức khoẻ của cây. Thường dùng đạm sunphát, đạm urê. Lân thường dùng lân thiên nhiên rất tốt. Cần có cây họ đậu phủ đất.

Kali thường thiếu ở đất nhẹ. Thiếu kali thì bị nhạt màu ở đầu lá và viền lá; thiếu magiê, nhạt màu giữa các gân lá; hàm lượng Mg > 0,20% thì giàu, 0,15-0,2% trung bình, dưới 0,15% là thiếu, dùng dolomit để bón.

Nguyên tố vi lượng Mn: rắc cho mỗi cây 2 lần, mỗi lần độ 100g sunfat mângn và molipđat natri Zn…

* Phương pháp bón phân:

- Nếu đất phù sa ven biển thì có thể chỉ bón một ít đạm (60-100kg N/ha) không cần bón PK trong những năm đầu.

- Đất feralitic cần bón chủ yếu N rồi P, và nếu đất nhẹ, thì bón NPK có thể thêm đôlômit. Tuỳ tuổi cây, lượng phân bón  tăng dần. Nên phối hợp việc chẩn đoán lá để bón phân. Cây lớn có thể bón đến 0,5-1kg sunfat đạm/cây/năm, 0,5-1kg lân thiên nhiên hoặc 200-300g supe lân kép (36-38% P2O5), 150-500kg K2SO4 hay KCl và 1/2-1kg đôlômít.

- Trong vườn ươm: Bón phân chuồng thật hoai 5-10T/ha + 500kg lân thiên nhiên lót. Sau đó, bón phân hỗn hợp NPK loại 8-12-10 vào khoảng 1500-2000kg/ha chia làm 2; 3 lần, bón giữa hai hàng cây con (phân hỗn hợp NPK 8-12-10; sunphatamôn 10kg + phốtphat thiên nhiên 28kg + supe lân 15kg + KCL 17kg = 100kg) sau khi đánh ra trồng.


Lượng phân bón cho cao su ở đất feralitic tham khảo

các nước trong vùng ASEAN

Số tháng kể từ khi đánh ra trồng

Sunfat đạm g/cây

Supe kép ba (48% P2O5/cây)

KCl g/cây

3

9

15

21

27

33

39

45

51

57

25

50

75

100

125

150

200

250

300

300

15

30

45

60

75

90

120

150

189

180

15

30

45

60

75

90

120

150

189

180

Sau đó, mỗi năm cứ tiếp tục bón 2 lần như vậy cách nhau 6 tháng. Tuỳ tình hình năng suất mà gia giảm, nhất là đối với P và K.

BÓN PHÂN CHO CAU

* Đặc điểm:

- Quả cau dùng ăn trầu còn làm thuốc chữa một số bệnh. Ngày nay các nước giảm tập quán ăn trầu, nhưng nhu cầu về cau vẫn tăng (Ấn Độ, Mã lai, Xây lan, Inđônêxia, Miến Điện, Việt Nam…).

- Kết quả phân tích của Viện hoá học nông nghiệp Bombay cho thấy: hàng năm 1 hécta cau rút đi của đất khoảng 60-80kg N, 20-30kg P2O5 và 60-80kg K2O (Suryanayana Pillai và Bidappa).

* Phương pháp bón phân:

Mỗi cây bón 12-15kg phân chuồng + 250g sunfat đạm + 250g supe lân + 125 KCl. Bón lót hết. Hàng năm bón lại như vậy.

Phân phức hợp: bón 400-600g loại NPK 6-6-12 sau mỗi lần thu hoạch quả. Trường hợp năng suất cao đặc biệt có thể bón đến 1000g phân phức hợp này cho một cây.

BÓN PHÂN CHO CAM, QUÝT

* Đặc điểm:

- Nước ta khí hậu thích hợp cho việc trồng cam quýt. Cây cam, quýt cần đất trồng sâu và nhẹ, hoặc đất thịt trung bình, thoáng có thể nghèo chất dinh dưỡng.

Năng suất quyết định do bón phân là NPK, Mg và vài loại vi lượng (Zn, Cu, Mn).

Đạm: Có thể bón 300kg/ha. Khi thiếu N: quả màu nhạt, vỏ mỏng, trơn, chín quá sớm, tăng năng suất quả, nhưng cỡ quả lại bé đi. Bón nhiều N phải chú ý cân đối P, K, Mg và vi lượng.

Lân: Có tác dụng tăng trưởng mạnh, màu lá xanh đẹp, quả nhiều hơn, phẩm chất tăng. Thiếu lân: Cây chậm lớn, lá sẫm màu, cỡ lá bé hơn, và rụng sớm. Vị quả chua, vỏ dày thô, dễ bị rỗng ruột. Bón nhiều lân dễ tiêu quá không tốt (sinh ra thiếu Zn, Cu, B và hạn chế tác dụng của phân N), ảnh hưởng phẩm chất.

Kali: Cây hút mạnh từ khi cây bắt đầu ra quả cho đến quả chín – cỡ quả tăng. Thiếu K quả bé, sau khi ra hoa bị rụng lá nhiều. Ở đất chua, thiếu Fe dễ bị vàng lá, năng suất kém, bón 10g Fe cho 1 cây ở dạng Fe EDTA trộn vào phân để bón, độ 6 tuần sau cây sẽ xanh lại, không nên phun hợp chất Fe lên lá (bỏng).

Nguyên tố vi lượng: Mn, B, Mo, Zn.

Ở đất bón nhiều vôi quá, dễ bị thiếu Mn; ở đất chua dễ bị thiếu Mo sinh ra bệnh “vệt vàng” (yellow spot). Bón vôi đến pH = 5,5-6,5. Có thể phun Molipdat natri amôn lên lá.

Mỗi tháng nên tưới nước một lần trong mùa khô.

* Phương pháp bón phân:

Trong mỗi hố định trồng cam quýt: Bón 10-15g N hoá học + 10kg phân chuồng hoai (hoặc 2,5kg khô dầu vụn trộn đất, hoặc 2kg phân gà ủ với đất trước). Sau khi trồng độ 1 tháng, thúc thêm 20g N/cây. Sau đó, cứ 4 tháng một lần bón thêm 20g N/cây trong năm đầu.

Năm đầu bón mỗi cây 100-120g P2O5 và 50-60g K2O. Từ năm thứ 2 trở đi, bón như sau:
 

Lượng chất dinh dưỡng cần bón (g/cây)

Năm

N g/cây

P2O5g/cây

K2O g/cây

Năm thứ 1-2

3

4

5

6

7

8 trở đi

75-100

100-150

150-200

225-300

300-350

400-425

500-550

50-100

100-150

150-200

200-250

250-300

300-350

350-400

50-65

100-130

130-150

150-180

180-200

220-250

250-300

Lượng phân trên bón làm 3 đợt: trước khi ra hoa độ 5, 6 tuần; khi bắt đầu nụ quả, và khi quả đang phát triển (bón nông trên mặt, xa gốc, không đào xuống sâu).

Lượng phân bón cần gia giảm tuỳ đất, tuỳ năng suất thu hoạch. Nếu năng suất tăng lên bất thường, phải bón tăng thêm nhiều để tránh thất thu năm sau.

Chẩn đoán lá để bón phân

Tỷ lệ NPK trong lá (% so chất khô), tuổi lá từ 5 đến 12 tháng
 

Loại phân

Thiếu

Vừa phải

Cao

Thừa

N

P

K

< 2,00

< 0,07

< 0,30

2,2-2,90

0,08-0,18

0,70-1,50

3,00-3,50

0,19-0,30

1,50-2,00

> 3,60

> 0,30

> 2,00

(Theo Chapman HD, Jones and Embleton. Crdock and Weir, Reuther and Smith).

BÓN PHÂN CHO CÀ PHÊ

* Đặc điểm:

- Vùng đất trồng cà phê cần khí hậu á nhiệt đới, hoặc vùng cao của nhiệt đới, có nhiệt độ trung bình hàng năm 16-210C (60-700F).

- Ở những vùng nhiệt độ < 100C hoặc trên 300C, vẫn tồn tại được nhưng khó phát triển, và năng suất kém, cà phê kém chịu rét và gió lạnh. Lượng mưa 1750-2000mm rất thích hợp, nhất là khi được phân bố đều.

- Cà phê chè (coffea arabica) tương đối khó trồng hơn cà phê mít (coffea excelsa) và cà phê vối (coffea liberica).

- Đất trồng cà phê có thể phát triển trên nhiều loại mẫu thạch (bazan, nai, đá vôi, thạch anh, hoa cương…) nhưng đất cần có lý tính tốt: đất sâu, bở, xốp, thoáng, và không bị úng nước. Cần đất thoáng vì rễ cà phê cần rất nhiều ôxy.

- Đất hơi chua, pH: 6-6,5 là thích hợp. Tuy nhiên có thể chua hơn nếu có nhiều Ca++ trao đổi, lý tính tốt và nhiều chất dinh dưỡng.

- Nơi nào mưa ít quá thì cà phê thường trồng trần; nơi đủ ẩm hơn, có thể trồng cây che bóng, kết hợp chống xói mòn, hạn chế cỏ dại…

- Nhiều vùng thâm canh vẫn không che bóng cho cà phê nếu điều kiện đất đai khí hậu tốt.

- Rất cần trồng cây phủ đất cho cà phê, nhất là khi không che bóng.

- Cây phủ đất tốt năng suất càng cao. Chú ý bón đạm thêm trong năm đầu, những năm sau đất sẽ giàu đạm hơn.

* Phương pháp bón phân:

- Một hécta cà phê tốt hút của đất ít nhất 135kg N, 34kg P2O5 và 145kg K2O.

- Cà phê không che bóng cần bón nhiều hơn cà phê có che bóng.

- Cần rất nhiều N và K hơn P.

- Hàm lượng tinh bột trong lá khi ra hoa và nụ quả rất ảnh hưởng đến năng suất và thay đổi từ 0,5 đến hơn 25%. Quả càng lớn lên thì tỷ lệ tinh bột trong lá càng giảm dần, khi quả chín tỷ lệ tinh bột lại tăng lên.

- Lượng N bón cho 1 hécta cà phê: 70-140kg N cho cà phê có che bóng; nếu không che bóng thì bón nhiều hơn. Bón làm nhiều đợt, ít nhất bón làm 2 đợt trong năm.

- Thiếu N có thể phun thêm urê lên lá (chú ý dùng urê chứa ít biurê).

- Lân bón chủ yếu cho cà phê con. Bón supe lân đã ủ trong phân chuồng, bón khi trồng. Bón trong lớp đất mặt cách gốc độ 20-30cm.

- Kali: Cần bón nhiều, nhất là khi bắt đầu có quả do trong quá trình quả phát triển, hàm lượng kali trong lá có thể sụt rất nhiều. Chú ý bón thúc thêm kali vào lúc đó.

Thường bón kali làm 2 đợt: đầu mùa mưa, và bón thúc thêm khi cây ra quả.

Bón nhiều kali phần nào giúp cây chống đỡ được bệnh nấm Hemileia vastatrix. Riêng giống S 795 của Ấn Độ chống chịu tốt với nấm này.

- Thỉnh thoáng cần bón thêm vôi và Mg cho cà phê.

Ở Brazin thường bón như sau (kg/ha trồng 2.200 cây) (theo Garayac).

Năm thứ 1:    Urê             130-150

                        Supe lân     180-200

                        KCl              80-100

Năm thứ 2:    Urê             180-200

                       Supe lân      230-250

                       KCl             120-150

Năm thứ 3:   Urê              220-250

                       Supe lân      270-300

                       KCl             250-280

Năm thứ 4:    Urê             300-350

                       Supe lân     250-300

                        KCl             270-350

Lượng phân thường bón cho cà phê ở Việt Nam

Năm

N

P2O5

K2O

Năm thứ 1

Năm thứ 2

Năm thứ 3

Thời kỳ KD

Thời kỳ tu bổ

90-110

110-130

150-220

220-250

170-220

60-80

80-110

110-140

140-160

120-150

50-70

70-80

100-160

180-210

170-200

- Đạm thường chia ra bón làm 3-4 lần/năm.

- Cây đã có quả thì ở Colombia dùng phân phức hợp NPK loại 10-5-20 phối hợp với phân hữu cơ ủ bằng vỏ quả cà phê. Bón 1kg phân này cho 1 cây trong 1 năm chia làm 2-4 đợt.

- Kali nên bón ở dạng sunfat và 1/2 ở dạng Clorua.

- Nên bón vôi 4-5 năm một lần ở vùng ít mưa và 3 năm một lần ở vùng mưa nhiều (> 3000mm). Bón từ 1,5 tấn vôi/ha trở lên, tuỳ pH đất.

- Rất nên bón nhiều phân lân thiên nhiên 4-5 năm một lần để cải tạo đất.

- Vi lượng chủ yếu: kẽm.

- Chẩn đoán lá: đầu mùa khô, hàm lượng tối thích trong lá là: N ≤ 2,70% (hàm lượng N xung quanh 3,0-3,3% biểu hiện ở lá xanh đậm và vẫn có thể cho năng suất rất cao).

BÓN PHÂN CHO CHÈ

* Đặc điểm:

Chè thường trồng trên đồi úp bát cho năng suất cao, chè thích hợp với đất hơi chua, pH ≤ 5,5.

- Đất địa thành, đất đồi núi, đất feralitic thường trồng chè được, cần đủ ẩm.

- Đất không chua phải bón lưu huỳnh (mỗi lỗ trộn vào 200g S để thật hoai, rồi trồng chè vào) hoặc bón nhiều phân sinh lý chua.

- Rất mẫn cảm với N, thường năng suất tăng theo lượng N bón đến 120kg N/ha (điều kiện không trồng cây che bóng). Trung bình 1kg N cho bội thu từ 2-8kg chè thương phẩm.

Cây chè còn nhạy cảm với phân lân, cây lớn ít nhạy cảm. Chú ý bón kali vì chè thường bị thiếu kali, khi thiếu kali, cây có dấu hiệu viền lá bị xám, nâu, hoặc khô, rụng lá nhiều, thưa lá, dễ bị bệnh.

Lá thiếu Magiê thì khi già ở phần dưới có tam giác xanh trên nền vàng úa, hoặc bị nhạt màu giữa các đường gân lá và ở rìa lá.

* Phương pháp bón phân: Có nhiều phương pháp:

- Nhiều nước không bón phân chuồng.

- Đạm: Năm đầu: 40-50kg N/kg; năm thứ 2: 50-60kg N/ha; năm thứ 3: 70-80kg N/ha. Từ đó trở đi, tuỳ năng suất, bón 100-150kg N/ha/năm chia làm 3-4 đợt (tuỳ đất, có thể bón đến 500kg N/ha/năm phân ra nhiều đợt 10-12 đợt/năm). Đạm trong lá thường 4,5% (so với chất khô). Nếu dưới 2,5% N, rất cần phải bón thêm đạm.

- Lân bón năm đầu 30kg P2O5/ha, những năm sau chỉ cần bón mỗi năm 20-25kg P2O5/ha. Trường hợp đất quả nghèo lân, cần bón 40-50kg. Thiếu lân, cây tong, bộ rễ kém phát triển, lá xanh sạm, về già thì lá dày và thô. Lân trong lá thường chiếm 0,6-0,9% (so với chất khô).

- Kali bón dạng Clorua được. Cây chè non bón ít kali khoảng 20-50kg K2O/ha; cây lớn tuỳ năng suất, thường bón 80-120kg K2O/ha chia làm 2 đợt (có thể bón đến 300-500kg K2O/ha chia làm 4-6 lần). Lá chè có chứa > 20% K2O trong tro thì đầy đủ kali. Hàm lượng khủng hoảng là 0,7% K2O trong chất khô của lá và 10% K2O trong tro.

- Magiê nếu dưới 0,2% trong lá thì cần bón bằng đôlômit 50-120kg/ha.

- Vi lượng: chủ yếu là Zn, hoặc trên cây con. Phun dung dịch 1% ZnSO4 – cần thêm chất dính, liều lượng phun khoảng 5-7kg sunfat kẽm/ha.

Phân hỗn hợp: có thể bón NPK Mg 10-7-7,5-3.

Theo Tolburst
( Còn nữa )

1
0
Bài viết cùng danh mục
Bài viết mới nhất
Loại Mua vào Bán ra
Vàng SJC 1L - 10L 47.800 49.000
Vàng nhẫn SJC 99,99 1 chỉ, 2 chỉ, 5 chỉ 47.200 48.700
Vàng nhẫn SJC 99,99 0,5 chỉ 47.200 48.800
Vàng nữ trang 99,99% 47.000 48.700
Vàng nữ trang 99% 46.418 48.218
Vàng nữ trang 75% 34.479 36.679
Vàng nữ trang 58,3% 26.345 28.545
Vàng nữ trang 41,7% 18.260 20.460
  Mua vào Bán ra
AUD 16,514.12 17,203.81
CAD 17,145.36 17,861.43
CHF 24,828.95 25,865.91
CNY 3,355.92 3,496.60
DKK - 3,764.14
EUR 26,792.23 28,158.67
GBP 29,266.30 30,488.58
HKD 2,916.04 3,037.83
INR - 326.81
JPY 214.93 226.59
KRW 17.26 21.01
KWD - 78,610.04
MYR - 5,696.56
NOK - 2,606.63
RUB - 342.02
SAR - 6,406.92
SEK - 2,705.67
SGD 16,662.47 17,358.36
THB 660.78 761.78
USD 23,060.00 23,270.00